Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ( CEDAW)


 I. “Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW” và ý nghĩa của nó đối với thế giới

  1. Hoàn cảnh ra đời của CEDAW

      Chúng ta đang bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ 21, một thế kỷ đầy biến động. Thế kỷ này là sự tiếp nối và phát triển vĩ đại các cuộc đấu tranh vì một xã hội tiến bộ, công bằng và phát triển bền vững, đặc biệt là cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏ ba hình thức bất bình đẳng lớn nhất của lịch sử loài người  là bất bình đẳng về chủng tộc, giai cấp và giới. Cho đến nay, nhiều cuộc tranh cãi mang tính toàn cầu xoay quanh các vấn đề về dân chủ và nô dịch, áp bức và bình đẳng đã nổ ra. Người ta thấy có những khác biệt về vấn đề phụ nữ, bình đẳng giới giữa các nước tiến bộ với nhóm Hồi giáo cực đoan. Tuy nhiên, từ những thập kỷ cuối thế kỷ 20 đến nay, bản đồ các nước đàn áp phụ nữ ngày càng thu hẹp trên thế giới. 

      Một trong những nền tảng của sự phát triển BĐG là Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ  (Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women - CEDAW). Công ước này được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn và thông qua ngày 18/12/ 1979, có hiệu lực từ tháng 9 năm 1981.

      Năm 1945, tổ chức LHQ ( UN ) đã thành lập. Đây là cơ quan quốc tế có quyền lực cao nhất nhằm tạo ra sự cân bằng và thúc đẩy phát triển toàn cầu. Năm 1960, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Mỹ, apartheid  ở Nam Phi đang tồn tại thì Công ước chống phân biệt chủng tộc cũng ra đời. Đây là điều lệ quốc tế đầu tiên chống lại sự phân biệt giữa các nhóm người có màu da khác nhau.  Vấn đề quyền công dân của người da đen được đặt ra mạnh mẽ ở Mỹ với  mục sư  Luther King và khái niệm “Phân biệt “đã trở thành phổ biến trong các phong trào đấu tranh của các nhóm yếu thế. Người ta đấu tranh đòi quyền chống lại sự phân biệt đối xử,  quyền con người trong đó bao hàm quyền chính trị, quyền văn hoá : mọi người đều được đi học, được bảo vệ sức khoẻ…

      CEDAW đã hưởng các thành quả của các phong trào đấu tranh trên và chịu ảnh hưởng của khái niệm “Phân biệt “ khi đưa ra nội dung  của Công ước là “ Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ “. CEDAW đã gộp được các luật văn hoá, chính trị, xã hội, có điều lệ chung. Trong Công ước,  mỗi quyền đều có cơ chế, có Hội đồng, có Uỷ ban CEDAW,  (Trước có 7 Uỷ ban nay có 8 Uỷ ban ). Công ước cũng là sự tiếp nối và hoàn chỉnh nhất của các công ước, tuyên bố về quyền con người của phụ nữ trước đó như Công ước về quyền chính trị của phụ nữ 1952, Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957, Công ước về trấn áp tội buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949, Tuyên bố thế giới về quyền con người năm 1948, Tuyên bố về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ  ngày 7/11/1967.  Có thể nói CEDAW là kết tinh của tư tưởng tiến bộ của loài người đối với phụ nữ.  Đây là văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc pháp lý đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ và xây dựng một chư­ơng trình nghị sự để thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ

    Thuật ngữ “ phân biệt đối xử với phụ nữ “ mang ý nghĩa là bất kỳ sự khác biệt, hạn chế hay loại trừ nào dựa trên cơ sở giới tính, có tác dụng hay mục đích ngăn cản, vô hiệu hoá sự thừa nhận phụ nữ đ­ược hưởng quyền con người và quyền tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự hay bất kỳ lĩnh vực nào khác. Phân biệt đối xử là kết quả của sự bất bình đẳng do xã hội phụ quyền tạo nên và chính nó lại tiếp tục xác lập sự bất bình đẳng trên phạm vi toàn cầu.

   Trong CEDAW, người ta đã phân loại khái niệm “Phân biệt đối xử ” thành hai loại. Đó là phân biệt đối xử trực tiếp ( có chủ ý ) và gián tiếp ( không chủ ý ), có sự phân biệt do phong tục tập quán nhưng cũng có sự phân biệt do chính sách, luật pháp. Chẳng hạn, luật lao động của Việt Nam hiện nay quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ là 55  và nam giới là 60 đã gây ảnh hưởng lớn tới việc đào tạo và đề bạt phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và khoa học. Luật cũng có 49 ngành nghề cấm phụ nữ  làm nhưng hiện nay, do sinh kế phụ nữ vẫn phải làm trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức và không được bảo hộ.  Phân biệt đối xử với phụ nữ xảy ra trong tất cả các lĩnh vực : trong chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, kinh tế, xã hội. Đó là việc không xem xét đến những khác biệt sinh học và khác biệt do xã hội quy định, áp dụng những tiêu chuẩn nam tính, không quan tâm đến những nhu cầu đặc thù của phụ nữ.

   2.  Ý nghĩa và tầm quan trọng của CEDAW với thế giới.

    Hai mươi chín năm đã trôi qua, kể  từ khi CEDAW ra đời. Bao nhiêu biến động trong phong trào chính trị của thế giới nói chung và phong trào phụ nữ nói riêng nhưng càng ngày người ta càng thừa nhận sự đúng đắn của CEDAW. Cho đến nay, CEDAW đã nhận được sự hoan nghênh và ủng hộ của hàng trăm quốc gia, hàng nghìn các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên khắp thế giới. Đến hết tháng 11/2006 đã có 185 nước đã phê chuẩn và cam kết thực hiện các điều khoản của Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên Hợp Quốc. Công ước xứng đáng đóng vai trò kim chỉ nam cho các hoạt động vì sự tiến bộ, bình đẳng và phát triển hoà bình.

  Tất cả các nước đã phê chuẩn đều đã cố gắng đưa tinh thần của Công ước và các chính sách, chương trình cụ thể của nước mình ở các mức độ khác nhau. Trong những năm qua, bên cạnh các thành tích to lớn trong việc xoá bỏ dần sự phân biệt giới trên phạm vi toàn cầu và trong từng nước là sự tồn tại dai dẳng của tư tưởng và khuôn mẫu của chế độ phụ quyền. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nước nào trên thế giới có điều kiện để thực hiện tất cả các điều khoản của Công ước một cách hoàn hảo (từ phần 1 đến phần 4).

    Bằng chứng phổ biến nhất là tất cả ở các nước dù đang phát triển hay phát triển, phụ nữ phải làm nhiều giờ hơn nam giới. Gánh nặng mà phụ nữ phải chịu trung bình trong các nước đang phát triển là 53% và trong các nước công nghiệp phát triển là 51%, song chỉ một nửa tổng số thời gian lao động của phụ nữ và nam giới là thuộc về các hoạt động kinh tế. Nửa kia là lao động trong gia đình hoặc các hoạt động cộng đồng mà trong các hoạt động thứ hai là nội trợ thì thường phụ nữ phải đảm nhiệm. Theo tính toán, ở các nước công nghiệp có khoảng 2/3 lao động của nam giới được trả công còn khoảng 1/3 là không được trả công. Đối với phụ nữ thì ngược lại, 2/3 lao động không được trả công. Trong các nước đang phát triển, hơn 3/4 lao động của nam giới là ở trong thị trường. Vì thế họ có thể thu nhập cao và những đóng góp của họ được định hình rõ rệt. Trong khi đó phần lớn lao động của phụ nữ là lao động không được trả công, không được nhìn nhận hoặc bị coi là ít giá trị. Hơn nữa, lao động của nam giới ngoài thị trường mang tính hợp tác cao hơn, lao động của phụ nữ ở nhà được coi là độc diễn với những công việc nội trợ hoặc chăm sóc con cái. Phụ nữ thường là trụ cột gia đình trên thực tế trong khi nam giới được coi là trụ cột gia đình trên danh nghĩa và quyền lực. Song, cũng ngay tại các nước được coi là là thiên đường của phụ nữ, thu nhập của phụ nữ tính theo lương cũng chỉ đạt được khoảng 3/4 của nam giới. Phụ nữ chiếm 70% trong số 1,3 tỷ người nghèo đói của thế giới.

    Số lượng phụ nữ lãnh đạo và tham gia hoạt động chính trị chiếm rất nhỏ so với nam giới : Họ chỉ chiếm 10% số ghế tại nghị viện và 6% trong chính phủ. Ở các nước đang phát triển, phụ nữ chỉ chiếm dưới 7% trong số các nhà quản lý. Tại 55 nước trên thế giới, từ những nước rất nghèo như  Bhutan, Etiopia đến những nước khá giầu như Hàn Quốc, Singapore, Hy Lạp và rất giầu có như Cô Oét phụ nữ chỉ chiếm dưới 5% số ghế trong nghị viện.

  Hàng năm có trên 500.000 phụ nữ bị chết vì thai sản và sinh đẻ. Phần lớn phụ nữ nghèo không có quyền sinh sản và không được chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Phụ nữ còn là nạn nhân của các tập tục man rợ như cắt bỏ bộ phận sinh dục ngoài  ở châu Phi, chế độ đa thê ở nhiều nước Hồi giáo. Tình trạng "trọng nam khinh nữ" ở một số nước châu Á đã đưa đến hậu quả tồi tệ là việc huỷ các bào thai bé gái ở Trung Quốc, Ấn Độ … dẫn tới sự vắng mặt của hơn trăm triệu phụ nữ châu Á. Hiện nay, tệ nạn này đang lan tới Việt nam và dẫn đến nguy cơ của sự mất cân bằng giới tính trong các thập kỷ tới.

   Phụ nữ còn là nạn nhân của các vụ bạo lực bao gồm cả bạo lực xã hội và bạo lực gia đình, các vụ cưỡng bức làm mại dâm, bị bóc lột tình dục, bị buôn bán như nô lệ.

   Một so sánh đầy thuyết phục là : trong một số lĩnh vực, sự có mặt của phụ nữ cao hơn nam giới. Đó là trong lao động, việc làm, là sự nghèo đói, mù chữ hoặc có trình độ văn hoá thấp, ngược lại ở các lĩnh vực khác, số phụ nữ có mặt thường thấp  hoặc rất thấp so với nam giới. Đó là các lĩnh vực chính trị, giáo dục, khoa học, văn hoá, hưởng thụ, quyền lực .

 II. Việt Nam và  CEDAW :

  1.  Nhà nước và nhân dân  thực hiện CEDAW, những thuận lợi và những khó khăn

    Ngày 29/7/1980 Việt Nam đã ký Công ước và phê chuẩn vào ngày 17/2/1982. Việt Nam là nước thứ 6 ký và nước thứ 35 phê chuẩn Công ước. Có thể nói, CEDAW vào Việt Nam không gặp nhiều trở ngại lớn. Bởi lẽ vấn đề bình đẳng giới  không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ đối với Việt Nam. Nói một cách khác, Việt Nam có sẵn cơ sở kinh tế - xã hội  thuận lợi cho việc tiếp nhận CEDAW.

   Bình đẳng Giới vẫn đang là một mục tiêu lớn của Chính phủ Việt Nam, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự tiếp nối trung thành và có hiệu quả những mục tiêu ban đầu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với quan điểm về văn minh và phát triển hiện nay của thế giới. Điều này đã không chỉ thể hiện bằng văn bản, luật pháp mà còn bằng cuộc sống xã hội. So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam có những chính sách tiến bộ về Giới. Những chính sách này được đề cập trong nhiều bộ luật và hiến pháp như Hiến pháp năm 1946, Luật Hôn nhân  và gia đình  (1959, 1986), Luật Quốc tịch, Bộ luật Lao động, Pháp lệnh Thừa kế và Bộ luật Hình sự  và hiện nay là Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình. Bằng luật pháp, nhà nước đã công nhận quyền bình đẳng của nam và nữ ở cả hai nơi trong xã hội và gia đình ; Nhà nước công nhận và bảo hộ chế độ một vợ một chồng, nam và nữ đều đựơc hưởng quyền thừa kế, quyền nuôi con và hưởng tài sản sau khi ly dị...

  Với những thành tích đó, mặc dù vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới nhưng Việt Nam đã được LHQ xếp hàng trung bình trong chỉ số GDI. Chẳng hạn, năm 1995, Việt Nam đứng thứ 72/130 nước với chỉ số 0,620;  Năm 2006, Việt Nam đứng hàng thứ  91/177 nước với chỉ số là  0,732 vẫn tiếp tục giữ vị trí của các nước trung bình. (UNDP, 2007-2008), thuộc nhóm nư­ớc tốt nhất Đông Nam A – Thái Bình Dương.

  Trong cuộc sống thực tế, BĐG đã được thực hiện ở mọi lĩnh vực từ gia đình đến xã hội, làm thay đổi các cơ sở kinh tế, các quan niệm về đạo đức, phong tục, tập quán theo phụ quyền và đặc biệt làm thay đổi thân phận và địa vị của phụ nữ . Phụ nữ đã được tham gia vào hầu hết các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, được luật pháp công nhận và có kinh tế độc lập và được nâng cao địa vị trong gia đình. Một số phụ nữ đã vươn lên vị trí lãnh đạo kinh tế và lãnh đạo chính trị.

  Năm 2001, Việt Nam đã bảo vệ Báo cáo 2,3 và 4 trư­ớc Uỷ ban CEDAW và năm 2007, đã bảo vệ Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện CEDAW. Trong báo cáo này, Việt Nam đã đưa ra những thành tích lớn. Chính phủ có nhiều cố gắng trong việc bổ sung luật pháp gần với CEDAW. Một số thành tích cụ thể là xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam  còn 11% , giải quyết việc làm  4,3 triệu người ( trong đó 1/2 là nữ ), tỷ lệ dân số biết chữ là 94%, phụ nữ đạt 92%, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và phụ nữ  có đổi mới. (UBQG vì sự tiến bộ của phụ nữ, 2003)

  Tuy nhiên, việc thực hiện  CEDAW cũng còn rất nhiều điều bất cập đặc biệt trên vấn đề cống hiến và hưởng thụ giữa nam và nữ.  Đây là các phần liên quan đến các điều khoản trong phần 1 của CEDAW. Giống như phụ nữ của nhiều nước trên thế giới, cường độ lao động, thời gian, hình thức lao động của phụ nữ Việt Nam còn có chênh lệch với nam giới . Các cuộc điều tra xã hội học trên cả hai vùng thành thị và nông thôn đã đưa ra những chỉ báo đáng chú ý : Phụ nữ đã lao động rất vất vả trên cả hai phương diện, xã hội và gia đình. Ngoài xã hội, họ phải lao động giống như nam giới, còn ở nhà họ phải gánh trách nhiệm chính. Họ được khoác rất nhiều chức năng : làm vợ, làm mẹ, người cấp dưỡng, tiếp phẩm, thủ quỹ, thợ giặt, người lau dọn nhà cửa, người trông trẻ, cô giáo, thày thuốc gia đình… Những công viêc tất bật từ sáng sớm đến đêm khuya đã hút kiệt sức lực và thời gian của phụ nữ khiến họ còn rất ít khoặc không có thời gian để nghỉ ngơi, hưởng thụ văn hoá. Điều này làm sự cách biệt giữa nam và nữ  càng tăng lên.

 Hiện nay vẫn còn tồn tại những khoảng cách (đôi khi còn khá xa) giữa luật pháp và thực tế. Theo một báo cáo của Ban Tuyên giáo thuộc Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam năm 1998 thì trong hơn 10 năm thực hiện Luật Hôn nhân gia đình (luật sửa đổi năm 1986), có nhiều điều luật gần như không được áp dụng trên thực tế. Đến nay, việc thực hiện luật ở Việt Nam vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi mà tư tưởng : “Sống và làm việc theo pháp luật “ vẫn  chưa được người dân thi hành nghiêm túc.

 Chẳng hạn,  quyền về đất đai của phụ nữ và trẻ em sau ly hôn ở nhiều nơi cũng chưa được bảo vệ. Tình trạng bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em đã xâm hại thân thể, nhân phẩm, quyền lợi, tính mạng của phụ nữ và trẻ em nhưng chưa được ngăn chặn kịp thời. Tình hình trên đã gây rất nhiều khó khăn cho phụ nữ và cải thiện cuộc sống của phụ nữ trên cơ sở công bằng.

  Bên cạnh đó, sự phục hồi một số tập tục lạc hậu đã thách thức pháp luật và dư luận tiến bộ. Từ những việc nhỏ như “ ra ngõ gặp gái “ đến các việc lớn như  tảo hôn, thách cưới, khát con trai, lấy vợ lẽ chui, sinh hoạt họ tộc theo kiểu vai vế, khắt khe, phân biệt nam nữ ... vẫn khá phổ biến trong xã hội. Đã có nhiều phụ nữ chỉ vì một sự "vi phạm" đối với những gì được coi là quy chuẩn trong gia đình, đã bị bêu xấu, sỉ nhục trước hàng xóm, cộng đồng. Ngày nay mặc dù bị pháp luật ngăn cấm nghiêm ngặt nhưng ở một vài nơi, gia đình chồng vẫn còn xử lý những phụ nữ bị nghi ngờ ngoại tình bằng cách cạo đầu, bôi vôi, lột quần áo và dắt ra ngoài đường để mọi người biết. Gần đây nhất đã nổi lên hiện tượng nạo thai bé gái ở một số vùng đã  làm mất cân bằng giới tính  và đe doạ sự bình ổn xã hội trong những thập kỷ tới.

 Hiện nay, theo nhận xét của  UBQG vì sự tiến bộ của phụ nữ và các tổ chức NGO Việt Nam và quốc tế thì bộ máy hoạt động vì bình đẳng giới còn yếu và thiếu khiến các hoạt động vì BĐG chưa có hiệu quả cao, nhiều nghiên cứu tốt về giới ch­ưa đư­ợc sử dụng vào việc lập chính sách, các tổ chức NGO và hoạt động của họ chư­a đư­ợc quan tâm đúng mức.

Lê Thị Quý 

                                      Trường Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội

(Nguồn: http://www.new.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=79%3Acong-c-xoa-b-mi-hinh-thc-phan-bit-i-x-vi-ph-n-cedaw-&catid=37%3Abao-cao-chuyen-&Itemid=65&lang=en)

Không có nhận xét nào: