Định Hướng Thời Gian Dài Hạn và Ngắn Hạn Trong Giao Tiếp Liên Văn Hóa

 


Nguồn ành: https://growupwork.com/


Doãn Thị Ngọc-GV Trường Đại Học Hoa Sen

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số phát triển như vũ bão ngày nay, sự khác biệt về văn hóa ngày càng ảnh hương mạnh mẽ đến giao tiếp, làm việc, và đời sống. Một trong những công cụ nổi bất để phân tích sự khác biệt giữa các xã hội là mô hình sáu  kích của Hofstede. Bài viết này sẽ tiếp nối thảo luận chiều kích thứ năm – Định hướng thời gian dài hạn và định hướng thời gian ngắn hạn (Long-term and short-term orientation=LTO) của Hofstede. Chiều kích này giúp lý giải cách xã hội nhìn nhận về thời gian, giá trị truyền thống, sự thay đổi và định hình tương lai; đồng thời nó cũng là công cụ phản ánh triết lý sống, tín ngưỡng của từng cộng đồng (Hofstede, 1991, 2010, 2015).

 

Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu về nguồn gốc và cơ sở lý thuyết của chiều kích định hướng thời gian dài hạn và định hướng thời gian ngắn hạn. Nó bắt nguồn từ khảo sát giá trị Trung Quốc do Michael Bond khởi xướng và phát triển vào năm 1987 với sự tham gia của nhiều học giả. Sau đó, vào năm 2010 được Michael Minkov sao chép và mở rộng dựa trên dữ liệu Khảo sát giá trị thế giới (WVS) 1995-2004 trên 93 quốc gia.

 

Cuối cùng, Hofstede đã đặt tên là định hướng thời gian dài hạn và định hướng thời gian ngắn hạn:

-       Định hướng thời gian dài hạn nhấn mạnh những đức tính thực dụng hướng tới những phần thưởng trong tương lai, đặc biệt là tính kiên trì, tiết kiệm và thích nghi với những hoàn cảnh thay đổi.

-       Ngược lại, định hướng thời gian ngắn hạn đề cao những đức tính liên quan đến quá khứ và hiện tại, chẳng hạn như lòng tự hào dân tộc, tôn trọng truyền thống, giữ gìn thể diện, ổn định, thực hiện các nghĩa vụ xã hội và giá trị đạo đức bất biến.

 

Sau đây là bảng tóm tắt sự khác biệt giữa Định hướng dài hạn và định hướng ngắn hạn của Hofstede.

Theo Hofstede (1991, 2011, 2015), văn hóa định hướng thời gian dài hạn cho rằng

       Thiện và ác là tương đối

       Tiêu chuẩn nào được áp dụng tùy thuộc vào tình huống

       Người giỏi thích nghi với hoàn cảnh

       Chúng ta nên khiêm tốn về bản thân mình

       Chúng tôi muốn học hỏi từ các nước khác

       Truyền thống có thể thay đổi

       Những sự thật đối lập có thể được tích hợp

       Lẽ thường và lựa chọn con đường trung dung


Theo Hofstede (1991, 2011, 2015), văn hóa định hướng thời gian ngắn hạn cho rằng

       Thiện và ác là tuyệt đối

       Các chuẩn mực cố định luôn được áp dụng, bất kể hoàn cảnh nào

       Người thượng đẳng luôn luôn như vậy

       Chúng tôi tìm kiếm thông tin tích cực về bản thân mình

       Chúng tôi tự hào về đất nước của mình

       Truyền thống là thiêng liêng

       Sự thật A luôn loại trừ sự đối lập của nó là B

       Chủ nghĩa chính thống tôn giáo và ý thức hệ


Một số ví dụ so sánh giữa các nước như sau:

-       Nhật Bản (88 điểm) và Trung Quốc (87 điểm) thuộc nhóm định hướng dài hạn. Người dân ở nhũng nước này có thói quen tiết kiệm, quan tâm tới giáo dục và chuẩn bị cho tương lai. Điều này lý giải vì sao sinh viên các nước Châu Á thường có thành tích toán học xuất sắc, nhưng vẫn tự đánh giá thấp để còn tiếp tục nỗ lực (Hofstede, 2010)

-       Hoa Kỳ (26 điểm) và Úc (21 điểm) thuộc nhóm định hướng ngắn hạn. Người dân ở những nước này đề cao tính cá nhân, thành tích cá nhân, tính thực dụng, và kết quả ngắn hạn. Ví dụ: doanh nghiệp Mỹ thường tìm kiếm thị phần và thường báo cáo lợi nhuận theo quý và lợi nhuận ròng, thay vì chiến lược lâu dài. Học sinh trung học đề cao giỏi toán theo cá nhân và tự tin vào thành tích của mình.

-       Việt Nam (57 điểm) thuộc nhóm trung gian. Đối với giáo dục, Việt Nam coi trọng giáo dục là quốc sách hàng đầu, con đường học tập là con đường vượt lên nghèo khổ, đổi đời bền vững. Vì vây, phụ huynh thường sẵn sàng đầu tư giáo dục dài hạn cho con cái như: đi học thêm, đi du học dù tốn kém trước mắt, nhưng lâu dài sẽ mang lại giá trị và lợi ích. Về kinh tế và tiết kiệm, Việt Nam có tính tiết kiệm, tư duy ăn chắc mặc bền nên nhiều gia đình đầu tư mua nhà, mua đất để dành thay vì chi tiêu ngắn hạn. Truyền thống và sự thích nghi: Viết Nam có tính linh hoạt và thích nghi cao, tôn trọng phong tục tập quán, nhưng sãn sàng thay đổi để hợp với thời đại.Việt nam là một xã hội đang chuyển mình giữa truyền thống và hiện đại một cách mạnh mẽ, việc dung hòa giữa giá trị ngắn hạn (thể diện và truyền thống) và dài hạn (giáo dục, tiết kiệm, phát triển nhanh) sẽ là chìa khóa để Việt Nam hội nhập thành công trong thời hiện đại.


Ví dụ khác: Giả sử trong đàm phán kinh doanh giữa công ty Nhật (dài hạn), Việt Nam (trung gian) và công ty Mỹ (ngắn hạn) thì phía Nhật và Việt Nam tập trung vào xây dựng mối quan hệ lâu dài, đề xuất chiến lược đầu tư lâu dài 10-20-30 năm và chấp nhận lợi nhuận thời gian đầu không cao. Ngược lại, phía Mỹ đề cao ngắn hạn nên mong muốn thấy ngay kết quả trong 3-5 năm. Như vậy, Việt Nam có thể dung hòa, cân bằng giữa hai đối tác Nhật và Mỹ. Vậy nếu chúng ta không hiểu sự khác biệt này các bên dễ hiểu lầm hoặc xảy ra mâu thuẫn và dễ thất bại trong hợp tác kinh doanh.

 

Theo Hofstede, điểm văn hóa định hướng thời gian ngắn hạn và dài hạn (LTO) có thay đổi theo thời gian

-       Điểm số phản ánh giá trị đã chuyển giao từ cha mẹ sang con cái và tương đối ổn định qua nhiều thế hệ.

-       Nghiên cứu của Sjoerd Beugelsdijk so sánh câu trả lời giống nhau​ qua các thế hệ cách nhau 30 năm không có sự thay đổi nào trên toàn thế giới và không có sự thay đổi nào về vị thế của các quốc gia

-       Tuy nhiên, toàn cầu hóa và phát triển công nghệ đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến thói quen cá nhân và hoạt động kinh doanh, giáo dục, văn hóa, chính trị và có thể làm biến đổi cách thức áp dụng các giá trị trong thực tế.

 

Tóm lại, sự khác biệt văn hóa định hướng thời gian dài hạn và ngắn hạn mang tới một cái nhìn sâu sắc về các nền văn hóa định hình hành vi cá nhân và tập thể và tác động rất mạnh mẽ đến quá trình phát triển của quốc gia đó. Trong giao tiếp liên văn hóa, nếu chúng ta hiểu rõ được sự khác biệt này sẽ giúp chúng ta tránh được những hiểu lầm không đáng có và đạt hiệu quả hợp tác bền vững (Hofstede, 1991; Hofstede, Hofstede & Minkov, 2010; Hofstede, 2011).

 

Còn tiếp (PHẦN 5-TÂM LÝ NÉ TRÁNH SỰ KHÔNG CHẮC CHẮN)

 

Tài liệu tham khảo

Hofstede, G. (1991). Cultures and Organizations: Software of the Mind, Intercultural Cooperation and Its. New York: McGraw-Hill.

Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing Cultures: The Hofstede Model in Context. Online Readings in Psychology and Culture, 2(1). https://doi.org/10.9707/2307-0919.1014

Hofstede, G., Hofstede, G. J., & Minkov, M. (2010). Cultures and Organizations: Software of the Mind (3rd ed.). New York: McGraw-Hill.

Hofstede, G. (2015). The 6-D model of national culture. Truy cập từ trang web https://geerthofstede.com/culture-geert-hofstede-gert-jan-hofstede/6d-model-of-national-culture/

 

 

 

Không có nhận xét nào: