Khoảng Cách Quyền Lực (POWER DISTANCE) Trong Giao Tiếp Liên Văn Hóa
Nguồn ành: vnexpress
Khoảng Cách Quyền Lực (POWER DISTANCE) Trong Giao Tiếp Liên Văn Hóa
Doãn
Thị Ngọc-GV Trường Đại Học Hoa Sen
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao tiếp liên văn hóa trở nên quan trọng không chỉ trong kinh doanh, mà còn trong giáo dục, chính trị và đời sống hàng ngày. Để hiểu rõ sự khác giữa các nền văn hóa, mô hình sáu chiều kích văn hóa của Geert Hofstede (1991, 2010, 2011) là công cụ nền tảng, mạnh mẽ, và thực tế. Mô hình này được Hofstede xây dựng từ việc nghiên cứu ở 53 quốc gia khác nhau vào năm 1970 với các nhân viên IBM, sau đó được bổ sung và mở rộng.
Từ dữ liệu đầu tiên của IBM, Hofstede
xác định bốn chiều kích văn hóa quốc gia bao gồm: Khoảng cách quyền lực, văn
hóa chủ nghĩa cá nhân và văn hóa chủ nghĩa tập thể, văn hóa nam tính và văn hóa
nữ tính, và tâm lý tránh né sự không chắc chắn. Tới năm 1980s, Michael Bond
(Canada) và nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra chiều kích văn hóa thứ năm là định
hướng văn hóa dài hạn và định hướng văn hóa ngắn hạn. Tới thập niên 2000s,
Michael Minkov (Bulgaria) đã bổ sung chiều kích thứ 6 là văn hóa hưởng thụ và
văn hóa kiềm chế (Hofstede, 2011; Hofstede & Minkov, 2010). Bài viết này sẽ
trình bày chiều kích đầu tiên là khoảng cách quyền lực, kèm theo khái niệm và ví
dụ minh họa ở Việt Nam và quốc tế và ý nghĩa thực tiễn.
Thứ nhất, chiều kích khoảng cách
quyền lực (Power distance) thể hiện mức độ các thành viên ít quyền lực
trong xã hội chấp nhận sự phân bổ quyền lực không đồng đều (Hofstede, 1991). Ở
xã hội có quyền lực cao thì sự bất bình đẳng được coi là “đương nhiên” và khó bị
chất vấn. Ngược lại, trong xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, quyền lực có sự
hợp pháp hóa, giám sát, và người dân có quyền chất vấn những người lãnh đạo.
Ví du: Việt Nam có điểm số khoảng cách quyền lực (PDI) cao chiếm 70 điểm/100. Điều này cho thấy tính tôn trọng thứ bậc trong gia đình và tổ chức. Trong môi trường doanh nghiệp, nhân viên thường chờ chỉ đạo từ cấp trên thay vì chủ động đưa ra giải pháp. Trong gia đình, con cái thường được kỳ vọng phải vâng lời cha mẹ và ít được tự quyết định về học hành, chọn trường, hôn nhân (dù hiện nay có nhiều thay đổi). Một số nước khác cũng có điểm số cao như: Nhật Bản (54/100), Đài Loan (58/100). Điểm PDI cao cho thấy sự phân bổ quyền lực không đồng đều, vị trí theo thứ bậc chiếm ưu thế và mọi người chấp nhận “vị trí của họ” trong hệ thống.
Ngược lại, ở Hoa
Kỳ hay Thuỵ Điển (30/100) có điểm
PDI thấp
và bình đẳng. Ở trường học, học sinh có thể gọi giáo viên bằng tên riêng và có
thể tranh luận trực tiếp trong lớp học (Hofstede, 2011).
Sau đây là bảng tóm tắt sự khác biệt giữa
xã hội có khoảng cách quyền lực cao và thấp của Hofstede
|
Khoảng cách quyền lực
thấp |
Khoảng cách quyền lực
cao |
|
Quyền lực phải hợp pháp
hóa và chịu sự giám sát và đánh giá đúng/sai |
Quyền lực có được là thực
tế nền tảng, không cần hợp pháp hóa |
|
Cha mẹ và con cái là
bình đẳng, công bằng, đưa ra quy tắc, giao tiếp cởi mở, ngang hàng |
Cha mẹ dạy con phải biết
vâng lời. |
|
Người già không đặc biệt
quá tôn kính |
Người già vừa được kính
trọng vừa bị sợ hãi |
|
Giáo dục lấy học sinh
làm trung tâm |
Giáo dục lấy giáo viên
là trung tâm. |
|
Thứ bậc là vì tiên lợi,
thứ bậc nghĩa là bất bình đẳng về vai trò |
Thứ bậc nghĩa là bất
bình đẳng. |
|
Câp dưới mong được tham
gia và trao đổi ý kiến và được tranh luận, phê bình |
Cấp dưới mong bị ra lệnh,
làm theo ý “sếp”, không được cãi. |
|
Chính phủ đa nguyên và
thay đổi bằng bầu cử |
Chính quyền độc đoán,
thay đổi bằng cách mạng |
|
Tham nhũng hiếm, nhưng
nếu bi phát hiện hoặc bê bối chính trị dẫn tới mất chức và pháp luật can thiệp |
Tham nhũng phổ biến, bê
bối chính trị được che đậy. |
|
Phân phối thu nhập khá
đồng đều |
Phân phối thu nhập rất
bất bình đẳng |
|
Tôn giáo nhấn mạnh bình
đẳng tín đồ |
Tôn giáo có hệ thống thứ
bậc |
Ý nghĩa thực tiễn:
Khi làm việc nhóm quốc tế, nếu không hiểu về sự khác biệt về khoảng cách quyền
lực, có thể dẫn đến hiểu lầm trong giao tiếp. Một quản lý người Anh hay người
Thụy Điển có thể mong đợi nhân viên Việt Nam chủ động nêu ý kiến, nhưng nhân viên
lại im lặng hay e ngại vì họ cho rằng như vậy là thiếu tôn trọng cấp trên, dám
thể hiện, dám giỏi hơn sếp.
Tóm lại, chiều kích khoảng cách quyền
lực cung cấp những góc nhìn khác biệt và tương đồng giữa các nền văn hóa. Tuy
nhiên, chúng ta cần lưu ý đây chỉ là xu hướng tổng quát và không nên áp dụng cứng
nhắc cho từng cá nhân, gia đình, và tổ chức. Trong bối cảnh hiện nay, sự giao
thoa văn hóa và toàn cầu hóa mạnh mẽ làm cho các giá trị văn hóa trở nên linh hoạt
hơn. Việc áp dụng chiều kich khoảng cách quyền lực đòi hỏi có sự quan sát và trải
nghiệm thực tiễn, sự cởi mở, sự nhạy cảm về văn hóa để tránh định kiến, thành
kiến, và rập khuôn (Hofstede, 1991; Hofstede, Hofstede & Minkov, 2010; Hofstede,
2011).
CÒN TIẾP (PHẦN 2): Chủ Nghĩa Cá Nhân và Chủ Nghĩa Tập Thể
Tài liệu tham khảo
- Hofstede, G. (1991). Cultures and Organizations: Software of the Mind, Intercultural Cooperation and Its. New York: McGraw-Hill.
- Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing Cultures: The Hofstede Model in Context. Online Readings in Psychology and Culture, 2(1). https://doi.org/10.9707/2307-0919.1014
- Hofstede, G., Hofstede, G. J., & Minkov, M. (2010). Cultures and Organizations: Software of the Mind (3rd ed.). New York: McGraw-Hill.

Không có nhận xét nào: