Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng K. Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay

Tuy không viết một tác phẩm nào bàn riêng về vấn đề áp bức và giải phóng phụ nữ, song những quan điểm mang tính phương pháp luận, lý luận quan trọng của K. Marx (1818 - 1883) về vị thế phụ nữ, lao động và việc làm, áp bức phụ nữ, giải pháp giải phóng phụ nữ,... đã được thể hiện trong nhiều tác phẩm lớn của ông và một số tác phẩm viết chung với F. Engels, và được đánh giá là có tầm ảnh hưởng lớn đến cách tiếp cận lý thuyết, tư tưởng về bình đẳng giới. Tư tưởng của K. Marx về giải phóng phụ nữ Phương pháp luận để hiểu áp bức và giải phóng phụ nữ Một trong những cách hiểu phổ biến coi chế độ gia trưởng đề cao vai trò và vị trí của nam giới là nguyên nhân của áp bức phụ nữ. Điều đó không hoàn toàn đúng vì phụ nữ và nam giới là tấm gương phản ảnh hình thái xã hội theo đó họ thuộc vào. K. Marx cho thấy cần phân tích các điều kiện/bối cảnh lịch sử tạo ra những mối quan hệ xã hội và hình thức nhận thức về bất bình đẳng nam nữ, dẫn tới việc phân tích các điều kiện của chủ nghĩa tư bản ảnh hưởng đến quan hệ giới từ việc đưa ra phương pháp luận để hiểu vấn đề áp bức phụ nữ. Hơn nữa, K. Marx nhìn giới như là một vấn đề động chứ không tĩnh. Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 và trong Hệ tư tưởng Đức, ông đã đưa ra một phê phán mạnh mẽ, thay thế cho các quan điểm truyền thống về thuyết nhị nguyên tự nhiên/xã hội. Thay vì tự nhiên và xã hội tồn tại như hai thực thể riêng biệt tương tác với nhau mà không thay đổi cơ bản bản chất của chính nó hay cái kia, K. Marx lập luận rằng cả hai đều có quan hệ biện chứng. Khi con người tương tác với thiên nhiên thông qua lao động, cả cá nhân và thiên nhiên đều bị thay đổi. Vì cả thiên nhiên và xã hội không phải là thực thể tĩnh. Sự phân công lao động theo giới chỉ là "tự nhiên" đối với mối quan hệ sản xuất kém phát triển, khi các đặc điểm sinh học của phụ nữ có thể gây khó khăn cho một số nhiệm vụ đòi hỏi về thể chất. Ý nghĩa của nó là phụ nữ được coi là thấp kém hơn trong xã hội là điều có thể thay đổi khi xã hội thay đổi. Và vì thế, phụ nữ sẽ phải làm việc để thay đổi tình trạng của mình. Tư tưởng K. Marx về giải pháp giải phóng phụ nữ Trong các công trình của mình, K. Marx hàm ý một số giải pháp giúp giải phóng phụ nữ. Một là, thủ tiêu chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, tức phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và từng bước thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Đây chính là điều kiện đầu tiên nhằm thủ tiêu sự lệ thuộc kinh tế của người phụ nữ. Điều này sẽ tạo ra cơ sở quan trọng nhất để thực hiện bình đẳng giới. Nguồn gốc của sự nô dịch phụ nữ, như F. Engels đã giải thích sau này, là do sở hữu tài sản cá nhân, và cuối cùng chỉ có thể được khắc phục bằng việc xóa bỏ cơ bản quyền sở hữu tư nhân đối với các phương tiện sản xuất và sự phân chia lao động. Hai là, xác lập sự bình đẳng nam nữ về mặt pháp lý trong đời sống xã hội cũng như trong gia đình. Khẳng định điều này, F. Engels viết: “…Đặc tính của sự thống trị của người chồng đối với người vợ trong gia đình hiện đại, và sự tất yếu phải xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên, cũng như phương thức xác lập sự bình đẳng ấy, chỉ bộc lộ ra hoàn toàn rõ ràng một khi cả vợ lẫn chồng đều hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật”. Trong thực tế, K. Marx là người đầu tiên kêu gọi việc chấm dứt sự phân công lao động theo giới trong gia đình và thúc đẩy sử dụng khái niệm giải phóng phụ nữ. Vấn đề trung tâm là sự kỳ thị đối với phụ nữ tại nơi làm việc. Phụ nữ trên toàn thế giới, trung bình, được trả thấp hơn đàn ông - cho cùng một loại công việc. Và mức lương thấp hơn thường có nghĩa là trợ cấp thấp hơn hoặc không có lương hưu. Điều này không chỉ có hại cho phụ nữ mà còn đối với người lao động nam giới. Sự chấp nhận rằng phụ nữ và thanh thiếu niên sẽ nhận được mức lương thấp hơn so với phần còn lại của lực lượng lao động là chia rẽ và phản tác dụng. Tầm quan trọng đặc biệt là cuộc đấu tranh để giành chiến thắng cho nguyên tắc "trả lương bình đẳng cho công việc bình đẳng" có thể bị các nhà tư bản trốn tránh và làm méo mó, bởi vì thường khó hoặc không thể so sánh các loại công việc khác nhau của nam giới và phụ nữ trong các ngành sản xuất khác nhau. Ba là, giải phóng người phụ nữ khỏi gánh nặng công việc gia đình. Việc phụ nữ tham gia hoạt động sản xuất xã hội được F. Engels coi là “điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ”. Phân công lao động trong xã hội và trong gia đình theo hướng giảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình cho người phụ nữ bằng việc xã hội hóa một phần công việc đó và lao động gia đình phải trở thành bộ phận của lao động xã hội. Phụ nữ bị phân biệt đối xử vì chức năng mang thai tự nhiên của họ. Trong xã hội ngày nay, có con vốn lẽ là một việc vui mừng, thì có thể là một khó khăn, đặc biệt là cho người mẹ. Thông thường nó có nghĩa là mất việc làm, nguy cơ đói nghèo và sự phụ thuộc vào hệ thống hỗ trợ xã hội. Một mặt, phụ nữ được mong đợi thực hiện chức năng tái sản xuất xã hội, tạo ra nguồn lao động cho xã hội. Mặt khác, nếu họ có con, họ có thể bị đẩy ra khỏi xã hội khi chỗ làm của họ bị mất, thời gian chăm sóc con những năm đầu tiên có thể làm kỹ năng và chuyên môn của họ thui chột và mất tính cạnh tranh khi xin việc lại. Vì thế, nhiều phụ nữ các nước tư bản đã chọn việc không sinh con. Để có thể làm việc ngoài xã hội, phụ nữ có con phải tìm người chăm sóc con cho họ. Một xã hội có hệ thống phúc lợi xã hội tốt phải mở rộng dịch vụ giáo dục mầm non cho trẻ em, kể cả trẻ rất nhỏ, ngoài những điều kiện như cha mẹ được phép nghỉ sinh có hưởng lương một thời gian sau khi sinh con. Ngoài ra cần khắc phục và xóa bỏ những tàn tích tồn tại với tư cách như là các “điều kiện xã hội” quan trọng khác cản trở quá trình giải phóng phụ nữ, như phong tục tập quán lạc hậu, thành kiến tôn giáo, tâm lý gia trưởng, coi thường phụ nữ... Ý nghĩa với Việt Nam hiện nay Quan điểm và tư tưởng của K. Marx về giải phóng phụ nữ còn nguyên giá trị trong cuộc sống ngày nay, nhất là về việc nâng cao vị thế phụ nữ trong các lĩnh vực đời sống xã hội, bảo đảm điều kiện làm việc và trả lương, bình đẳng giới. Quan điểm về giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam Bình đẳng giới trong Hiến pháp Tư tưởng giải phóng phụ nữ ở Việt Nam được thể hiện rõ qua hệ thống pháp luật, chính sách từ khi bắt đầu độc lập 1946 đến nay. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 quy định: “Tất cả quyền bình đẳng trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Phát huy tinh thần đó, các bản Hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định, công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới… và nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Khoản 1 và Khoản 3 Điều 26). Bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ cơ bản kế thừa các quan điểm của K. Marx và có vận dụng với điều kiện Việt Nam với các vấn đề chính: giải phóng phụ nữ về chính trị, về kinh tế, về văn hóa xã hội và tâm lý. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “nam nữ bình quyền” là một cuộc cách mạng lớn và khó vì định kiến giới đã ăn sâu vào suy nghĩ, quan điểm của nhiều thế hệ người dân. Để “thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng nam nữ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân mạnh ý chí tự lực phấn đấu của phụ nữ như một điều kiện cần và vai trò hỗ trợ của các cấp ủy và Chính quyền là điều kiện đủ cho bình đẳng giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Trong Di chúc năm 1969, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước có chủ trương nhất quán thúc đẩy và thể chế hóa quyền bình đẳng của phụ nữ. Đây chính là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho phụ nữ phát triển và phát huy vai trò, vị thế của mình trong xã hội. Một trong những mốc quan trọng là ngày 27-4-2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về “công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới. Đây được coi là một trong những văn bản quan trọng nhất thể hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vấn đề giải phóng phụ nữ. ....... https://moha.gov.vn/kstthc/tintuc/giai-phong-phu-nu-theo-tu-tuong-k-marx-va-y-nghia-doi-voi-viet-nam-hien-nay-38602.html

Không có nhận xét nào: