Chủ Nghĩa Cá Nhân và Chủ Nghĩa Tập Thể (Individualism vs Collectivism) Trong Giao Tiếp Liên Văn Hóa
Doãn
Thị Ngọc-GV Trường Đại Học Hoa Sen
Trong một thế giới toàn cầu hóa, có những khác biệt tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại tạo ra những cú sốc lớn trong công việc, học hành và đời sống. Chắc mỗi chúng ta cũng từng đã hỏi điều gì làm sinh viên phương Tây có thể chọn ngành học theo sở thích, trong khí đó, vẫn có sinh viên Việt Nam thường phải cân nhắc mong muốn của gia đình? Hay trong cuộc họp, người Mỹ phản biện thẳng ý tưởng của sếp, ngược lại, nhiều nhân viên Châu Á lại im lặng để giữ thể diện. Bài viết này sẽ trình bày tiếp theo chiều kích thứ hai trong mô hình các chiều kích văn hóa của Hofstede (1991, 2011) - văn hóa chủ nghĩa cá nhân và văn hóa chủ nghĩa tập thể (Individualism vs Collectivism) để trả lời cho câu hỏi trên.
Văn hóa chủ nghĩa cá nhân và văn hóa
chủ nghĩa tập thể đề cập mức độ gắn kết của cá nhân trong tập
thể hay các nhóm xã hội. Trong xã hội theo văn hóa chủ nghĩa cá nhân, các mối quan hệ thường
không khăng khít, mỗi cá nhân đều được
mong đợi tự chịu trách nhiệm, tự lo cho bản thân và chăm sóc gia đình trực tiếp.
Ví dụ, cá nhân từ 18 tuổi được xem là
công dân trưởng thành, tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi, tự kỷ luật, tự do, tự quyết, sống riêng. Mỗi người có ý kiến
riêng
rồi mới thống nhất, bất đồng về quan điểm có thể xảy ra nhưng họ không quá khó
chịu với nhau. Chẳng hạn, Hoa Kỳ (có điểm 91) là xã hội cá nhân, đề cao tự do
cá nhân và sự thẳng thắn trong giao tiếp.
Ví dụ thực tế: Trong buổi họp, giám đốc
đưa ra ý tưởng. Nhân viên lập tức nói: “Tôi không nghĩ rằng ý tưởng này hiệu quả.
Chúng ta nên xem xét thêm những quan điểm khác. Sếp chấp nhận sự phản biện mà
không cảm thấy khó chịu và xem đó là sự tham gia chủ động và tích cực. Trong
văn hóa cá nhân và khoảng cách quyền lực thấp, tổ chức và cá nhân đều coi trọng
sự công khai, minh bạch. Phản biện công khai không bị xem là bất kính. Mọi ý kiến
được nói rõ, trực tiếp, thẳng thắn để đưa ra quyết định nhanh. Thuận lợi là tăng
sự sáng tạo, giảm nói sau lưng, bình đẳng, quyết định nhanh và đề cao hiệu quả
và tập trung đúng vấn đề và ý tưởng chứ không phán xét con người để ‘giảm mất mặt’,
nhưng có thể gây căng thẳng và va chạm.
Ngược lại, văn hóa chủ nghĩa tập thể đề
cao sự gắn kết trong gia đình và nhóm. Trung thành được xem là giá trị cốt lõi.
Cá nhân trong xã hội từ khi sinh ra đã hòa nhập mạnh mẽ với nhóm gia đình mở rộng
(gia đình trực tiếp và họ hàng hai bên), họ được bảo vệ để đổi lấy lòng trung
thành và gắn liền với nhóm người cùng chuyên quyền xuyên suốt cuộc đời
(Hofstede, 1991).
Ví du: Nhật Bản (46) nằm ở gần giũa.
Việt Nam đạt 20 điểm phản ánh tính tập thể cao. Trong gia đình, con cái gắn bó
với cha mẹ và gia đình mở rộng và coi trọng ý kiến tập thể hơn cá nhân. Trong
giao tiếp, cá nhân thường không dám nói thẳng, ngại sự va chạm, ngại cạnh
tranh, ngại đối đầu. Tuy nhiên, khi cần nói họ thường nói né, nói tránh, nói
vòng vo, tự hiểu, tự đoán.
Ví dụ thực tế: Tình huống trong buổi
họp của công ty. Giám đốc đưa ra ý tưởng. Nhân viên thấy có điểm chưa hợp lý,
nhưng không dám phản đối trực tiếp để “giữ thể diện” cho sếp. Sau cuộc họp họ
có thể trao đổi riêng, nghĩa là phần chìm văn hóa khi có ý kiến trái chiều thì
thường bày tỏ gián tiếp. Hành vi này cho thấy tổ chức này theo văn hóa tập thể
và có quyền lực cao nên mọi người tôn trọng sự hài hòa và tôn ti trật tự được
ưu tiên hơn sự thẳng thắn. Mặt lợi là giữ hòa khí, nhưng có rủi ro là giảm tính
sáng tạo, bỏ lỡ ý tưởng mới và hạn chế tính bình đẳng.
Sau đây là bảng tóm tắt sự khác biệt
giữa xã hội chủ nghĩa cá nhân và tập thể của Hofstede:
|
Văn hóa chủ nghĩa cá
nhân |
Văn hóa chủ nghĩa tập
thể |
|
Mỗi cá nhân tự chăm sóc
bản thân và gia đình hạt nhân của mình |
Sinh ra đã thuộc về gia
đình và dòng họ, được bảo vệ để đổi lấy sự trung thành |
|
Ý thức về “Tôi” như Tôi
có thể làm được |
Ý thức về “Chúng ta”. |
|
Đề cao quyền riêng tư,
tự do, thời gian |
Đề cao sự thuộc về nhóm |
|
Nói thẳng là lành mạnh
và được chấp nhận |
Giữ hòa khí, thể diện
quan trọng hơn |
|
Người khác được coi là
cá nhân |
Người khác được phân loại
“trong nhóm” hay “ngoài nhóm” |
|
Đề cao ý kiến cá nhân,
một người=1 phiếu |
Ý kiến hay phiếu bầu bị
chi phối bởi nhóm |
|
Cảm thấy tội lỗi khi vi
phạm chuẩn mực |
Cảm thấy xấu hổ khi vi
phạm chuẩn mực |
|
Học cách học là quan trọng
trong giáo dục |
Học cách làm là quan trọng
trong giáo dục |
|
Nhiệm vụ, trách nhiệm
quan trọng hơn quan hệ. |
Quan hệ quan trọng hơn
nhiệm vụ |
|
Ngôn ngữ coi trọng từ
“tôi” |
Ngôn ngữ coi trọng từ
“chúng ta”, ít dùng “tôi” |
Trong thực tế khi làm việc với đội
ngũ đa quốc gia, người từ nền văn hóa cá nhân nói ngay vào vấn đề, có thể ưu
tiên ý tưởng của cá nhân, trong khi những người từ nền văn hóa tập thể có xu hướng
tìm kiếm sự đồng thuận. Để cân bằng trong đội ngũ quốc tế, mọi người cần có quy
tắc chung, có khen rồi phản biện, và chỉ tập trung vào ý tưởng, không chê con
người để giữ thể diện.
Cuối cùng, chiều kích văn hóa cá
nhân và văn hóa tập thể cung cấp những góc nhìn khác biệt và tương đồng giữa
các nền văn hóa để chúng ta có thể lý giải được các phần chìm và nổi của hành vi nhằm xây dựng chiến lược giao tiếp hiệu quả hơn. Trong môi trường đa văn hóa, không có mô hình nào là hoàn toàn tốt hay xấu vì mỗi mô hình đều có điểm mạnh và hạn chế riêng. Bất kỳ ai tham gia hợp tác quốc tế đều nên dung hòa hai cực này một cách linh hoạt. Trong bối cảnh
hiện nay, sự giao thoa văn hóa và toàn cầu hóa rất mạnh mẽ làm cho các giá trị văn
hóa trở nên linh hoạt hơn. Việc áp dụng chiều kích cá nhân và tập thể đòi hỏi
có sự quan sát và trải nghiệm thực tiễn, sự cởi mở, sự nhạy cảm về văn hóa để
tránh định kiến, thành kiến, và rập khuôn (Hofstede, 1991; Hofstede, Hofstede
& Minkov, 2010; Hofstede, 2011).
(CÒN TIẾP-Phần 3: Văn Hóa Nam Tính và Văn Hóa Nữ Tính)
Tài liệu tham khảo
Hofstede, G. (1991). Cultures and
Organizations: Software of the Mind, Intercultural Cooperation and Its. New
York: McGraw-Hill.
Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing
Cultures: The Hofstede Model in Context. Online Readings in Psychology and
Culture, 2(1). https://doi.org/10.9707/2307-0919.1014
Hofstede, G., Hofstede, G. J., &
Minkov, M. (2010). Cultures and Organizations: Software of the Mind (3rd ed.).
New York: McGraw-Hill.

Không có nhận xét nào: