Văn Hóa Nam Tính và Văn Hóa Nữ Tính (Masculinity vs Femininity) Trong Giao Tiếp Liên Văn Hóa
Doãn
Thị Ngọc-GV Trường Đại Học Hoa Sen
Trong giao tiếp liên văn hóa, chúng
ta thường chú ý đến ngôn ngữ hay phong cách lãnh đạo, nhưng ít khi để ý đến một
trong những chiều kích nam tính và nữ tính ảnh hưởng cách chúng ta tương tác với
nhau. Bài viết này sẽ tiếp nối thảo luận chiều kích thứ ba - văn hóa nam
tính và văn hóa nữ tính (Masculinity vs Femininity) của Hofstede (1991,
2010).
Theo Hofstede (1991, 2011), văn hóa
nam tính và nữ tính phản ánh mức độ coi trọng thành tích, cạnh tranh, thành
công cá nhân so với xã hội nữ tính đề cao sự hợp tác, quan hệ, và chất
lượng cuộc sống. Xã hội nam
tính cho rằng thành công được xác định
bởi người chiến thắng hay người giỏi nhất. Vai trò giới về mặt cảm xúc, nam giới được cho là người quyết đoán, mạnh mẽ và là trụ cột và
có sự phân biệt rõ nét về giới tính. Ngược lại, xã hội nữ tính tượng trưng cho
sự hợp tác, khiêm tốn, chăm sóc cho những người yếu đuối và đề cao chất lượng
cuộc sống. Vai trò giới về mặt cảm xúc chồng chéo lên nhau: cả nam và nữ đều bình
đẳng, đều đóng vai trò đa dạng.
Ở
các quốc gia nữ
tính
(như Bắc Âu, Hà Lan) đề cao sự cân bằng công việc và cuộc sống. Khi có mâu thuẫn,
họ chú trọng sự lắng nghe và trao đổi để đồng thuận và giải quyết bằng thỏa hiệp và thương lượng. Các phúc
lợi như ngày nghỉ hay thời gian làm
việc linh hoạt được ưa thích hơn. Trọng tâm của những xã hội nữ tính là hạnh phúc và địa vị không được khoe ra. Người quản lý thường
tạo không khí thoải mái, cởi mở, hài hòa trong nhóm.
Ở các quốc gia nam tính (như Nhật Bản
và Mỹ) nhấn mạnh giá trị “được ăn cả, ngã về không”, coi trọng kết quả, sự khảng
định bản thân, thành tích cá nhân. Ở Nhật, văn hóa làm nhiều giờ là chuẩn mực; vì vậy, người
ta nhận ra những cơ hội và rủi ro của
nó. Mọi
người được thúc đẩy bởi các mục tiêu chính xác và bằng cách thể hiện rằng họ đã
đạt được chúng với tư cách là một nhóm hoặc với tư cách cá nhân.
Ví dụ: trong họp hành đa văn hóa, Người
Nhật có điểm nam tính cao nên mong chờ sự cạnh tranh ý tưởng và nỗ lực tối đa để
“thắng” và người Mỹ phát biểu thẳng thắn, tranh luận dữ dội, trong khi đó, người
Thụy Điển ưu tiên thảo luận để tất cả cùng đồng thuận và có thể coi cách của
người Mỹ là quá căng thẳng. Ở Việt Nam, tùy vào ngữ cảnh như công ty tư nhân
hay nhà nước thì họp hành vừa có yếu tố cạnh tranh thành tích, vừa có sự chú trọng
quan hệ và hòa khí.
Điểm quan trọng là văn hóa nam tính
khi họp là để đưa ra quyết định nhanh, đạt kết quả. Ngược lại, văn hóa nữ tính
khi họp là để đạt đồng thuận và duy trì mối quan hệ tốt đẹp. Đúc kết lại, nhà
quản lý cần kết hợp cả hai vừa hướng tới kết quả, vừa duy trì sự gắn kết trong
nhóm.
Sau đây là bảng tóm tắt sự khác biệt
giữa xã hội nam tính và nữ tính
|
Văn hóa nam tính |
Văn hóa nữ tính |
|
Phân biệt vai trò giới
rõ rệt |
Ít phân biệt vai trò giới |
|
Nam giới phải quyết
đoán, tham vọng, nữ giới có thể tuân theo. |
Nam giới và nữ giới đều
nên khiêm nhường và làm công việc chăm sóc |
|
Công việc quan trọng
hơn gia đình |
Cân bằng công việc và
gia đình |
|
Ngưỡng mộ kẻ mạnh |
Thương cảm và giúp đỡ
người yếu thế |
|
Người cha thiên về lý
trí, người mẹ thiên về cảm xúc |
Cha mẹ cùng quan tâm cả
lý trí lẫn cảm xúc |
|
Bé trai không được
khóc, phải đánh trả, bé gái thì không |
Bé trai và bé gái đều
được khóc và không nên đánh nhau |
|
Người cha quyết định số
con trong gia đình |
Người mẹ quyết định số
con |
|
Ít phụ nữ giữ vị trí
chính trị |
Nhiều phụ nữ giữ vị trí
chính trị |
|
Tôn giáo nhấn mạnh thần
linh |
Tôn giáo nhấn mạnh con
người |
|
Tình dục mang tính đạo
dức và biểu hiện |
Tình dục mang tính tự
nhiên và gắn kết |
Để kết thúc chiều kích nam tính và nữ
tính, nhà lãnh đạo hiệu quả không nên chọn một bên – nam tính hay nữ tính – mà
cần kết hợp hoặc linh hoạt ứng dụng từng chiều kich để thúc đẩy hiệu suất và
duy trì sự hài hòa. Khi đó, sự khác biệt về văn hóa trở thành động lực để sáng
tao và hợp tác bền vững (Hofstede, 1991; Hofstede, Hofstede & Minkov, 2010;
Hofstede, 2011).
Còn tiếp (PHẦN 4-CHIỀU KÍCH ĐỊNH HƯỚNG THỜI GIAN NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN)
Tài liệu tham khảo
Hofstede, G. (1991). Cultures and
Organizations: Software of the Mind, Intercultural Cooperation and Its. New
York: McGraw-Hill.
Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing
Cultures: The Hofstede Model in Context. Online Readings in Psychology and
Culture, 2(1). https://doi.org/10.9707/2307-0919.1014
Hofstede, G., Hofstede, G. J., &
Minkov, M. (2010). Cultures and Organizations: Software of the Mind (3rd ed.).
New York: McGraw-Hill.

Không có nhận xét nào: