Tâm Lý Né Tránh Sự Không Chắc Chắn (Uncertainty Avoidance) Trong Giao Tiếp Liên Văn Hóa

 

Nguồn ảnh: The Conversation

Doãn Thị Ngọc-GV-Trường Đại Học Hoa Sen

 

Trong bối cảnh văn hóa toàn cầu, sự nổi lên của công nghệ số và nền kinh tế sáng tạo, đặc biệt tác động của dịch COVID-19, việc hiểu chiều kích Tâm Lý Né Tránh Sự Không Chắc Chắn (Uncertainty Avoidance-UA) trong giao tiếp liên văn hóa trở nên rất quan trọng. Chiều kích này không chỉ giải thích sự khác biệt về hành vi cá nhân, mà còn liên quan đến xu hướng đổi mới, mức độ căng thẳng (stress), cơ chế quản trị xã hội cũng như chính sách công giữa các quốc gia.

 

Chỉ số UA được Hofstede phát triển trên thang điểm từ 0-100. Điểm càng gần không cho thấy sự chấp nhận mơ hồ thấp và điểm gần 100 là cao.

 

Bài viết này sẽ tiếp tục thảo luận chiều kích thứ tư – Tâm lý né tránh sự không chắc chắn (UA) của Hofstede (1991, 2010, 2011), cụ thể nguồn gốc, khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm, hậu quả, và thách thức khi ứng dụng trong thực tế.

 

1.    Nguồn gốc khái niệm

Ý tưởng văn hóa tránh né sự không chắc chắn (UA) được bắt nguồn từ công trình ‘Lý thuyết hành vi tổ chức’ của Richard Cyert và James March vào năm 1963 nhấn mạnh cách các tổ chức đối diện với sự bất định. Sau đó, Hofstede (2011) đã mở rộng khái niệm này để lý giải sự khác biệt giữa các quốc gia về sự mơ hồ và cái mới.

 

2.    Khái niệm và sự khác biệt

 

Theo Hofstede (2011, 2015), “Tâm lý né tránh sự không chắc chắn là mức độ mà các thành viên trong xã hội cảm thấy thoải mái hay lo âu hay đe dọa trước những tình huống mới, bất ngờ, chưa rõ ràng, chưa biết trước, hay mơ hồ.

 

Hofstede nhắc nhở chúng ta không nên nhầm lẫn chiều kích này với sự tránh né rủi ro (risk avoidance). Người thuộc nền văn hóa tránh né sự không chắc chắn cao vẫn có thể “chấp nhận rủi ro”, miễn là họ tin rằng các rủi ro này được hiểu rõ và có thể kiểm soát (Hofstede et al, 2010).

 

3.    Ý nghĩa học thuật và thực tiễn

Các nghiên cứu (Hofstede, 2010) cho thấy:

·      Xã hội UA cao thường có nhiều luật lệ để giảm thiểu những bất định, niềm tin mạnh mẽ vào chân lý một cách tuyệt đối, ít khoan dung với sự khác biệt, bộc lộ cảm xúc, và động lực là do sự lo lắng từ bên trong.

·      Ngược lại, xã hội UA thấp thường có tính khoan dung cao hơn với quan điểm khác biệt, ít phụ thuộc vào luật lệ hơn, có tính thực nghiệm về triết lý sống và tôn giáo, linh hoạt với sự mơ hồ, những tình huống mới, không có cấu trúc, và coi khác biệt là tò mò, chứ không mang tính đe dọa.

 

4.    Ví dụ minh họa

·      Việt Nam (30) ở mức độ thấp. Trên lý thuyết, Việt Nam thuộc nhóm có mức tránh né sự mơ hồ thấp. Tuy nhiên, thực tế phức tạp hơn nhiều do sự giao thoa với các chiều kích khác, với bối cảnh xã hội. Điều này thể hiện qua:

v Hệ thống giáo dục vẫn còn mang nặng tính thi cử, nhấn mạnh đáp án ‘đúng-sai’ thay vì sáng tạo và tư duy phản biện

v Người lao động coi trọng tính tập thể, quan hệ lâu dài nên ít tranh luận, né tránh mâu thuẫn, thích sự ổn định, gắn bó với khu vực công cao hơn, ít dám khởi nghiệp vì sợ rủi ro cao về tài chính và mất mặt.

v Trong một nhóm làm việc, nếu có bất đồng, người Việt thường chờ người có thẩm quyền giải quyết.

v Trong đại dịch COVID-19, Việt Nam nhanh chóng áp dụng biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt. Điều này cho thấy xu hướng mong muốn kiểm soát sự mơ hồ và bất định cao.

v Tuy nhiên, thế hệ Gen Z tại Việt Nam thể hiện xu hướng khác so với cha mẹ. Họ cởi mở hơn với sự mơ hồ, sẵn sàng nhảy việc nếu thấy bất công, dám phản biện, nhiều người dám đối mặt với rủi ro, thử khởi nghiệp sáng tạo. Điều này cho thấy đang có sự chuyển dịch rõ ràng giữa các thế hệ. Sự giao thoa giữa các thế hệ vừa mở ra những thách thức nhưng cũng vừa là cơ hội cho sáng tạo, chuyển mình, hội nhập, và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

·      Hoa Kỳ (46) có điểm ở trung gian. Xã hội có UA thấp như Bắc Âu và Mỹ có văn hóa linh hoạt, cởi mở, ít quy tắc cứng nhắc, đổi mới công nghệ và sáng tạo nhanh chóng và tạo ra nhiều dịch vụ và sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu đa đạng. Khi có mâu thuẫn, họ dám trực diện tranh luận, không né tránh vấn đề, quyết định nhanh, chấp nhận bất đồng vì họ cho rằng mâu thuẫn là cơ hội cho sự sáng tạo, đưa ra các gốc nhìn mới và không cần lúc nào cũng đồng thuận với nhau.

 

·      Nhật Bản có UA cao (92). Họ đặc biệt nhạy cảm với sự mơ hồ và xung đột. Trong văn hóa giải quyết mâu thuẫn, họ áp dụng văn hóa Nemawashi (tìm sự đồng thuận trước, thảo luận lâu dài, chi tiết, kỹ lưỡng từng bước một để mọi người đưa ra kết quả cao, hiệu quả và uy tín cao). Người Nhật cũng nổi tiếng với hệ thống quy trình, qui tắc chặt chẽ nhằm kiểm sóat rủi ro và mâu thuẫn.

 

Nhìn chung, những văn hóa có chỉ số né tránh sự không chắc chắn cao có xu hướng rơi vào các quốc gia ở Trung Âu và Đông Âu, hay nước La Tinh, Nhật Bản và những nước nói tiếng Đức. Trong khi đó, những văn hóa có chỉ số né tránh sự không chắc chắn thấp thường rơi vào các nước nói tiếng Anh, các nước Bắc Âu có đặc điểm văn hóa chung: bình đẳng, dân chủ, cá nhân, nhưng giàu tính cộng đồng, nhấn mạnh sự đồng thuận hay các nước nói tiếng Trung (Hofstede, 1991; Hofstede, Hofstede & Minkov, 2010; Hofstede, 2011).

 

5/ Đặc điểm của các nền văn hóa UA

Xã hội UA cao có những đặc điểm sau đây:

·      Xem sự mơ hồ là mối đe dọa cần chống lại

·      Căng thẳng và lo âu cao

·      Dễ bộc lộ cảm xúc (chủ quan), đôi khi trở thành gây hấn

·      Cái gì khác biệt được xem là nguy hiểm

·      Cần nhiều luật lệ, kể cả khi chúng không thực sự hiệu quả

·      Quá trình chấp nhận đổi mới chậm

·      Người lao động có xu hướng gắn bó lâu dài với công việc

·      Có hiện tượng bài ngoại.

 

Xã hội UA thấp có những đặc điểm sau đây:

·      Chấp nhận sự mơ hồ như một phần tất yếu của cuộc sống

·      Ít căng thẳng và kiểm soat cảm xúc tốt hơn

·      Xem “sự khác biệt” là thú vị và hiếu kỳ.

·      Ít luật lệ nhưng ứng dụng luật tốt, luật không tốt có thể bị thay thế và không tuân thủ nếu cần thiết

·      Đổi mới được chấp nhận nhanh

·      Người lao động thường đổi việc

·      Có sự khoan dung và cởi mở với sự khác biệt

 

6.    Hệ quả xã hội

·      Đối với xã hội UA cao: Lái xe tốc độ cao hơn, mức độ nghiện rượu cao hơn, bắt buộc mang giấy tờ tùy thân, ít y tá trên mỗi bác sĩ, cảm nhận tham nhũng cao hơn, người tiêu dùng chuộng sản phẩm tinh khiết, ‘sạch’, và quảng cáo dựa vào chuyên gia để tạo niềm tin.

·      Đối với xã hội UA thấp: Lái xe tốc độ thấp hơn, mức độ nghiện rượu thấp hơn, không bắt buộc mang giấy tờ tùy thân, nhiều y tá trên mỗi bác sĩ, cảm nhận tham nhũng thấp hơn (ở các nước giàu), người tiêu dùng chuộng sản phẩm tiện lợi và chế biến sẵn, quảng cáo uy tin và thiên về sự hài hước.

 

7.    Thách thức khi ứng dụng UA

Mặc dù mô hình của Hofstede đã chúng minh giá trị trong việc lý giải sự khác biệt về văn hóa, việc áp dụng chiều kích UA này vẫn gặp phải một số rào cản. Những rào cản này có thể xem xét ở ba yếu tố: xung đột thế hệ, rào cản đổi mới, và khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn.


Về yếu tố xung đột thế hệ, sự khác biệt về UA giữa các thế hệ đang tạo ra khoảng cách văn hóa nội tại. Thế hệ cha mẹ (Gen X và một phần Gen Y) thường mong đợi sự ổn định, tuân thủ luật lệ, né tránh mạo hiểm. Trong khi đó, thế hệ Gen Z lại chấp nhận sự mơ hồ, sẵn sàng thay đổi công việc, mạo hiểm khởi nghiệp, và phản biện nhiều hơn. Điều này dẫn đến sự xung đột giá trị và niềm tin trong gia đình, tổ chức, và xã hội.

 

Về yếu tố đổi mới và sáng tạo, văn hóa UA cao thì nhiều luật lệ, quy trình được thiết lập để giảm sự bất định, nhưng vô tình lại trở thành rào cản cho đổi mới và sáng tạo. Ở những tổ chức như vậy việc thay đổi thường chậm chạp và thủ tục rườm rà, triển khai ý tưởng thường chậm chạp, yêu cầu sự đồng thuận cao, và hạn chế rủi ro tài chính. Ngược lại, văn hóa UA thấp dễ dàng chấp nhận sự thất bại và thử nghiệm nhanh chóng.

 

Về yếu tố khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn, Việt Nam có UA thấp nhưng xã hội lại có những biểu hiện của UA cao. Điều này cho thấy chỉ số UA có lúc sẽ không hoàn toàn phản ánh đặc thù của từng quốc gia, bởi mỗi xã hội còn bị chi phối bởi chiều kích khác (Khoảng cách quyền lực, nam tính và nữ tính, định hướng thời gian ngắn hạn và dài hạn, chủ nghĩa tập thể và cá nhân) và yếu tố lích sử, văn hóa, xã hội, chính trị, bối cảnh, công nghệ số và các yếu tố khác. Đây cũng là phê bình chung dành cho mô hình sáu chiều kích văn hóa của Hofstede.

 

Tóm lại, chiều kích Tâm Lý Né Tránh Sự Không Chắc Chắn (Uncertainty Avoidance-UA) cung cấp một công cụ phân tích quan trọng để lý giải sự khác biệt trong kinh doanh, giáo dục, chính sách công, đời sống xã hội giữa các quốc gia khi đối mặt với nhũng gì mới mẻ và mơ hồ. Việc tìm hiểu UA không chỉ tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong giao tiếp liên văn hóa, mà còn gợi mở cách thức giải quyết mâu thuẫn, thiết kế chính sách phù hợp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu.

 

Còn tiếp (PHẦN CUỐI CÙNG: CHIỀU KÍCH HƯỞNG THỤ VÀ KIỀM CHẾ)

 

Tài liệu tham khảo

·      Hofstede, G. (1991). Cultures and Organizations: Software of the Mind, Intercultural Cooperation and Its. New York: McGraw-Hill.

·      Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing Cultures: The Hofstede Model in Context. Online Readings in Psychology and Culture, 2(1). https://doi.org/10.9707/2307-0919.1014

·      Hofstede, G., Hofstede, G. J., & Minkov, M. (2010). Cultures and Organizations: Software of the Mind (3rd ed.). New York: McGraw-Hill.

McSweeney, B, (2002). Hofstede’s Model of National Cultural Differences and Their Consequences: A Triumph of Faith-A Failure of Analysis. Human Relations 55 (1), 89-118. Truy cập từ https://doi.org/10.1177/0018726702551004

Không có nhận xét nào: